Bình giảng về bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương

Văn mẫu lớp 11
Bình giảng về bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương
5 (100%) 1 đánh giá

Bình giảng về bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương

Bài làm

Là một nhà thơ với nhiều tác phẩm trào phúng, Tú Xương có nhiều tác phẩm để đời cho nền văn học nước nhà. Thương vợ là một bài thơ điển hình thể hiện tâm tư, nỗi xót xa, hổ thẹn của mình đối với vợ của ông. Đồng thời cũng lên án thói đời bất công khiến những người tài đức như ông nhiều lần không thể đỗ đạt.

Việc thi cử lận đận của Trần Tế Xương là một minh chứng cho câu “học tài thi phận” bởi lẽ ông vốn bản tính thông minh, tài giỏi nhưng chính cái thế sự thay đổi ở đời khiến ông chưa một lần thành danh. Ông thương xót cho chính mình và những người đồng cảnh ngộ với mình đồng thời cảm thấy có lỗi, xấu hổ với sự kỳ vọng của vợ con. Bởi vậy ông đã viết lên bài thơ “Thương vợ “ như chính tiếng lòng của ông đối với người vợ đầu gối tay ấp của mình.

Hai câu thơ đầu tiên Tế Xương đã khắc họa rõ công việc kéo dài không có điểm kết thúc của vợ mình:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.”

Công việc ấy tiếp nối ngày này qua tháng khác, không có ngày nghỉ, dù ốm đau mưa bão. Bà chỉ làm việc ở cái mom sông bé nhỏ chênh vênh ấy, như chính cái cơ cực mà bà Tú phải gánh chịu hàng ngày. Tương hợp vì nó gợi ra cái thế tồn tại thật chênh vênh, cơ cực của bà Tú.

Chính cái không gian “mom sông ” và thời gian “quanh năm ” ấy đã hòa vào nhau bám riết lấy thân hình bà Tú. Tác giả chợt nhận ra gánh nặng đè nặng lên vai người vợ của mình suốt bao nhiêu năm tháng để “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Cái cách ông đặt mình bên cạnh năm đứa con khiến người đọc thấy xót xa. Bởi ông tự nhận thấy mình chính là gánh nặng lớn nhất mà vợ mình phải gánh chịu, nỗi tủi hờn và hổ thẹn bắt đầu dâng lên khiến ông cảm thấy tê tái. Nhưng đến hai câu thơ sau:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

Loading...

Bình giảng về bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương

Hình ảnh thân cò xuất hiện như ý chỉ sự mảnh mai, gầy guộc của người vợ lại hiện giữa không gian “khi quãng vắng” như tô điểm thêm cho sự nguy hiểm luôn rình rập bà Tú. Cách sử dụng nghệ thuật đảo ngữ lặn lội thân cò càng làm tăng sự cô độc trước dòng đời nổi trôi của bà Tú.

Tác giả đã nghe thấy tiếng “eo sèo” trước cảnh đò đông. Điều ấy thể hiện rằng cảnh buôn bán nhỏ như bà Tú không tránh khỏi những tiếng cãi vã, nhưng bà vẫn bươn trải, chật vật giữa dòng người trong buổi đò đông. Câu thơ như nỗi đau, ứ nghẹn trái tim bởi là một người chồng mà không làm được gì cho vợ.

Trong các công việc mà bà Tú làm ấy không hề có sự giúp đỡ nào từ người chồng. Nhưng ẩn sau đấy là tình cảm thương mến, cảm thông trước nỗi vất vả của vợ nhưng không biết phải làm gì để có thể ohuj giúp vợ:

“Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công”.

Tế Xương cho rằng vợ chồng đến được với nhau là duyên nợ. Nhưng ở đây ông lại viết duyên thì chỉ có một mà nợ thì có đến hai. Cái cơ cực mà bà Tú phải chịu chỉ là do kiếp trước bà nợ ông. Âu đành phận ở đây không hẳn là sự cam chịu mà là sự cảm thông, độ lượng của bà Tú giành cho chồng của mình.

Hình ảnh “năm nắng mười mưa” như thể hiện được nỗi cơ cực vất vả tần tảo của người phụ nữ, làm ngày đêm không quản nắng mưa. Còn câu “Dám quản công” như thể sự an phận, cố gắng vì chồng con không một lời than vãn.

Hiểu được sự đời, Tú Xương buông tiếng chửi:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không”.

Ông chửi cái xã hội bất công khi mà một người tài không thể đỗ đạt. Chính vì lo thi cử học hành mà Tú Xương không thể chia sẻ gánh nặng cơm áo gạo tiền với vợ mình. Ông chửi bản thân mình vô tích sự không thể lo gì cho vợ con. Đến đây ta cũng có thể thấy được chính Tú Xương đã thoát khỏi tư tưởng của một người đàn ông phong kiến để thương, tôn trọng và cảm phục trước bao hi sinh vất vả của vợ mình.

Bài thơ đã thể hiện rõ lối thơ tự phát, mộc mạc nhưng chân thành. Bằng tiếng thơ Tú Xương đã nói lên sự thấu hiểu và thương cảm với sự hy sinh thầm lặng dành cho người vợ của mình. Đồng thời lên tiếng chửi thế sự đời bất công khiến ông và nhiều người tài giỏi không thể đỗ đạt, làm khổ vợ con.